Hỗn dịch uống Biviantac kháng acid vị dưa gang Reliv (30 gói x 10ml)
2 lượt xem
36 tháng Hạn sử dụng
Thông tin minh bạch Thuốc tiêu hoá & gan mật Còn hàng

Hỗn dịch uống Biviantac kháng acid vị dưa gang Reliv (30 gói x 10ml)

Nguồn gốc rõ ràng, ưu tiên hạn dùng và hỗ trợ tư vấn khi cần.

Giá
132.000 ₫ 145.200 ₫ -10%

Giá đã bao gồm VAT

Trạng thái kho Còn hàng Sẵn sàng giao hàng
Chính hãng 100% authentic
Giao nhanh 2-3 ngày
Ưu tiên hạn dùng Theo dõi hạn dùng rõ ràng trước khi mua
Tạm tính 132.000 ₫
Mã sản phẩm TTHGM59855
Danh mục Thuốc tiêu hoá & gan mật
Trạng thái kho Còn hàng
Hạn sử dụng 36 tháng
Magnesium hydroxide 800mg, Dried aluminum hydroxide gel 800mg, Simethicone 80mg
Chỉ định Hỗn dịch uống Biviantac New Melon taste có tác dụng kháng acid và chống đầy hơi. Điều trị triệu chứng: Ợ nóng, ăn không tiêu, tăng tiết acid dạ dày, đau dạ dày với các triệu chứng này, đầy hơi, ăn uống quá mức. Dược lực học Mã ATC: A02A F02. Nhóm thuốc: Thuốc kháng acid kết hợp chất chống đầy hơi. Aluminum hydroxide Dried aluminum hydroxide gel là bột vô định hình, không tan trong nước và cồn. Bột này có chứa 50-57% aluminum oxide dưới dạng hydrate oxide và có thể chứa các lượng khác nhau aluminum carbonate và bicarbonate. Aluminum hydroxide là một muối vô cơ được dùng làm thuốc kháng acid. Thuốc phản ứng với acid hydrochloric dư thừa trong dạ dày để làm giảm độ acid trong dạ dày, nên làm giảm các triệu chứng loét dạ dày tá tràng, ợ chua, ợ nóng hoặc đầy bụng, trào ngược dạ dày - thực quản. Aluminum hydroxide hay gây táo bón, nên aluminum hydroxide thường uống cùng thuốc kháng acid chứa magnesium (magnesium oxide hoặc magnesium hydroxide) là thuốc có tác dụng nhuận tràng. Aluminum hydroxide cũng gắn vào phosphate thức ăn ở dạ dày và ruột để tạo thành những phức hợp không hòa tan và làm giảm hấp thu phosphate. Như vậy, aluminum hydroxide còn được dùng để điều trị tăng phosphate huyết ở người bị suy thận hoặc tăng năng cận giáp thứ phát (tuy tích lũy aluminum là một vấn đề cần xem xét). Aluminum hydroxide cũng được dùng làm chất phụ (tá dược) trong vắc xin hấp phụ nhưng gần đây có báo cáo về phản ứng phụ do aluminum. Magnesium hydroxide Các muối magnesium (magnesium carbonate, magnesium hydroxide, magnesium oxide, magnesium trisilicate) được dùng làm thuốc chống acid dịch vị (antacid), thuốc nhuận tràng và thuốc cung cấp magnesium cho cơ thể khi cơ thể thiếu (magnesium là cation nhiều thứ hai trong nội tế bào, có một vai trò quan trọng trong nhiều chức năng của cơ thể). Cơ chế tác dụng: Các thuốc chống acid có khả năng trung hòa acid dịch vị, kết quả là làm tăng pH của dịch vị dạ dày. pH dạ dày tăng sẽ ức chế hoạt động phân giải protein của pepsin, điều này đặc biệt quan trọng đối với bệnh nhân bị loét dạ dày tá tràng. Hoạt động của pepsin tối ưu trong khoảng pH 1,5 – 2,5 và bị ức chế khi pH tăng, pH > 4 thì hoạt động của pepsin là tối thiểu. Khi pH dạ dày tăng từ 1,3 đến 2,3 thì khoảng 90% lượng acid dịch vị được trung hòa, khi pH tăng đến 3,3 thì 99% lượng acid dịch vị được trung hòa. Không rõ cần trung hòa lượng acid dịch vị bao nhiêu và trong bao lâu là tối ưu để làm lành các vết loét đường tiêu hóa, nhưng hầu hết các bác sĩ lâm sàng cho rằng pH dạ dày nên duy trì ở mức 3 – 3,5 trong ngày càng lâu càng tốt. Phản ứng trung hòa acid dịch vị diễn ra như sau: Magnesium hydroxide và magnesium oxide phản ứng nhanh với acid hydrochloric tạo thành magnesium chloride và nước. Magnesium hydroxide có hoạt tính trung hòa acid dịch vị mạnh nhất trong các hợp chất magnesium. Các hợp chất magnesium có tác dụng nhuận tràng do làm tăng áp lực thẩm thấu trong ruột, kích thích giải phóng cholecystokinin nên ngăn ruột hấp thu để giữ nước và điện giải, kích thích nhu động ruột. Chính vì tác dụng này nên hợp chất magnesium thường được kết hợp với hợp nhất aluminum trong các chế phẩm chống acid dịch vị để điều chỉnh nhu động ruột, làm giảm bớt táo bón gây ra do cation aluminum. Simethicone Simethicone là hỗn hợp polydimethylsiloxan và silicon dioxyd, có tác dụng chống tạo bọt. Simethicone làm giảm sức căng bề mặt của các bọt khí, làm vỡ hoặc kết tụ chúng lại và bị tống ra ngoài, nhờ đó có tác dụng chống đầy hơi. Vì vậy simethicone có tác dụng làm giảm các triệu chứng do có quá nhiều khí ở đường tiêu hóa gây ra ở cả người lớn và trẻ em, như khi nuốt phải nhiều khí vào dạ dày hoặc có một số chất khí được tạo ra ở ruột do sự giáng hóa của những thức ăn không được tiêu hóa bởi các vi khuẩn ruột. Simethicone còn được dùng ở dạng kết hợp với thuốc kháng acid, thuốc chống co thắt và enzyme tiêu hóa. Dược động học Aluminum hydroxide Khi uống, aluminum hydroxide phản ứng chậm với acid hydrochloric dạ dày để tạo thành aluminum chloride hòa tan, một số nhỏ được hấp thu vào cơ thể. Các thức ăn trong dạ dày làm cho thuốc ra khỏi dạ dày chậm hơn khi không có thức ăn nên kéo dài thời gian phản ứng của aluminum hydroxide với acid hydrochloric dạ dày và làm tăng lượng aluminum chloride. Khoảng 17 - 30% aluminum chloride tạo thành được hấp thu và đào thải rất nhanh qua thận ở người có chức năng thận bình thường. Ở ruột non, aluminum chloride được chuyển nhanh thành các muối aluminum kiềm không hòa tan, kém hấp thu, có thể là một hỗn hợp aluminum hydroxide, oxyaluminum hydroxide, các loại aluminum carbonate kiềm và các xà phòng aluminum. Aluminum hydroxide cũng phối hợp với phosphate trong thức ăn ở ruột non để tạo thành aluminum phosphate không hòa tan, không hấp thu và bị đào thải vào phân. Nếu phosphate thức ăn được đưa vào cơ thể ít ở người bệnh có chức năng thận bình thường thì aluminum hydroxide sẽ làm giảm hấp thu phosphate và gây giảm phosphate máu và giảm phosphate niệu và hấp thu calcium tăng lên. In vitro, aluminum hydroxide gắn với muối mật tương tự như cholestyramin và ít hòa tan trong dịch vị để giải phóng anion làm trung hòa một phần acid dịch vị. Aluminum hấp thu được đào thải qua nước tiểu. Magnesium hydroxide Hấp thu: Các hợp chất magnesium (magnesium carbonate, magnesium hydroxide, magnesium oxide, magnesium trisilicate) thực tế rất ít tan trong nước. Sau phản ứng trung hòa acid hydrochloric trong acid dịch vị, một phần muối magnesium chloride được tạo thành sẽ được hấp thu qua đường tiêu hóa. Lượng magnesium được hấp thu là khoảng 33%. Thời gian tác dụng chống acid phụ thuộc thời gian dạ dày rỗng. Uống thuốc khi đói thì thời gian tác dụng khoảng 20 - 60 phút. Nếu uống vào bữa ăn hoặc trong vòng 1 giờ sau khi ăn, tác dụng có thể kéo dài tới 3 giờ. Phân bố: Trong cơ thể, lượng magnesium gắn với protein huyết tương khoảng 33%. Magnesium được phân bố vào xương (50%) và các mô (45% ở dịch nội bào và 5% ở dịch ngoại bào). Thải trừ: Magnesium được thải trừ gần như hoàn toàn qua thận, tốc độ thải trừ tỉ lệ thuận với nồng độ thuốc trong huyết tương và tốc độ lọc ở cầu thận. Một lượng nhỏ magnesium được thải trừ qua phân và nước bọt. Thuốc cũng có thể được thải trừ nhờ thẩm tách máu. Simethicone Simethicone có tính trơ về sinh lý. Sau khi uống, thuốc không hấp thu qua đường tiêu hóa, cũng không cản trở bài tiết acid dạ dày hoặc hấp thu các chất dinh dưỡng. Simethicone được thải trừ dưới dạng không đổi trong phân. Cách dùng Lắc kỹ trước khi dùng. Thuốc dùng qua đường uống. Liều dùng Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi Uống 10 ml - 20 ml (1 – 2 gói) giữa các bữa ăn, trước khi đi ngủ hoặc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Không dùng quá 60 ml (6 gói) trong khoảng thời gian 24 giờ. Không dùng liều tối đa trong hơn 2 tuần. Trẻ em dưới 12 tuổi Hỏi ý kiến bác sĩ. Xử trí quá liều Triệu chứng quá liều Các triệu chứng quá liều bao gồm kích ứng đường tiêu hóa, tiêu chảy nhiều nước. Trường hợp ngộ độc magnesium có thể gây tăng magnesium huyết, bao gồm các triệu chứng như buồn nôn, nôn, đỏ bừng mặt, khát nước, hạ huyết áp, chóng mặt, lú lẫn, mất phản xạ gân xương, yếu cơ, ức chế hô hấp, rối loạn nhịp tim, hôn mê và ngừng tim. Xử trí quá liều Truyền tĩnh mạch 10 - 20 ml dung dịch tiêm truyền calcium gluconate 10% nếu có suy hô hấp hoặc ngừng tim. Nếu chức năng thận bình thường, uống hoặc truyền đủ nước để giúp thải loại magnesium ra khỏi cơ thể. Cân nhắc lọc máu nếu bệnh nhân suy thận hoặc tăng magnesium nghiêm trọng. Quên liều Không dùng gấp đôi liều bỏ lỡ. Mọi thông tin chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.

Thông tin trên website chỉ dùng để tham khảo. Hãy hỏi dược sĩ hoặc bác sĩ nếu bạn đang điều trị, mang thai, cho con bú hoặc có bệnh nền.

Tổng quan sản phẩm
Mã sản phẩmTTHGM59855
Trạng thái khoCòn hàng
Hạn sử dụng36 tháng
Thành phần
Magnesium hydroxide 800mg, Dried aluminum hydroxide gel 800mg, Simethicone 80mg
Cách sử dụng
Chỉ định Hỗn dịch uống Biviantac New Melon taste có tác dụng kháng acid và chống đầy hơi. Điều trị triệu chứng: Ợ nóng, ăn không tiêu, tăng tiết acid dạ dày, đau dạ dày với các triệu chứng này, đầy hơi, ăn uống quá mức. Dược lực học Mã ATC: A02A F02. Nhóm thuốc: Thuốc kháng acid kết hợp chất chống đầy hơi. Aluminum hydroxide Dried aluminum hydroxide gel là bột vô định hình, không tan trong nước và cồn. Bột này có chứa 50-57% aluminum oxide dưới dạng hydrate oxide và có thể chứa các lượng khác nhau aluminum carbonate và bicarbonate. Aluminum hydroxide là một muối vô cơ được dùng làm thuốc kháng acid. Thuốc phản ứng với acid hydrochloric dư thừa trong dạ dày để làm giảm độ acid trong dạ dày, nên làm giảm các triệu chứng loét dạ dày tá tràng, ợ chua, ợ nóng hoặc đầy bụng, trào ngược dạ dày - thực quản. Aluminum hydroxide hay gây táo bón, nên aluminum hydroxide thường uống cùng thuốc kháng acid chứa magnesium (magnesium oxide hoặc magnesium hydroxide) là thuốc có tác dụng nhuận tràng. Aluminum hydroxide cũng gắn vào phosphate thức ăn ở dạ dày và ruột để tạo thành những phức hợp không hòa tan và làm giảm hấp thu phosphate. Như vậy, aluminum hydroxide còn được dùng để điều trị tăng phosphate huyết ở người bị suy thận hoặc tăng năng cận giáp thứ phát (tuy tích lũy aluminum là một vấn đề cần xem xét). Aluminum hydroxide cũng được dùng làm chất phụ (tá dược) trong vắc xin hấp phụ nhưng gần đây có báo cáo về phản ứng phụ do aluminum. Magnesium hydroxide Các muối magnesium (magnesium carbonate, magnesium hydroxide, magnesium oxide, magnesium trisilicate) được dùng làm thuốc chống acid dịch vị (antacid), thuốc nhuận tràng và thuốc cung cấp magnesium cho cơ thể khi cơ thể thiếu (magnesium là cation nhiều thứ hai trong nội tế bào, có một vai trò quan trọng trong nhiều chức năng của cơ thể). Cơ chế tác dụng: Các thuốc chống acid có khả năng trung hòa acid dịch vị, kết quả là làm tăng pH của dịch vị dạ dày. pH dạ dày tăng sẽ ức chế hoạt động phân giải protein của pepsin, điều này đặc biệt quan trọng đối với bệnh nhân bị loét dạ dày tá tràng. Hoạt động của pepsin tối ưu trong khoảng pH 1,5 – 2,5 và bị ức chế khi pH tăng, pH > 4 thì hoạt động của pepsin là tối thiểu. Khi pH dạ dày tăng từ 1,3 đến 2,3 thì khoảng 90% lượng acid dịch vị được trung hòa, khi pH tăng đến 3,3 thì 99% lượng acid dịch vị được trung hòa. Không rõ cần trung hòa lượng acid dịch vị bao nhiêu và trong bao lâu là tối ưu để làm lành các vết loét đường tiêu hóa, nhưng hầu hết các bác sĩ lâm sàng cho rằng pH dạ dày nên duy trì ở mức 3 – 3,5 trong ngày càng lâu càng tốt. Phản ứng trung hòa acid dịch vị diễn ra như sau: Magnesium hydroxide và magnesium oxide phản ứng nhanh với acid hydrochloric tạo thành magnesium chloride và nước. Magnesium hydroxide có hoạt tính trung hòa acid dịch vị mạnh nhất trong các hợp chất magnesium. Các hợp chất magnesium có tác dụng nhuận tràng do làm tăng áp lực thẩm thấu trong ruột, kích thích giải phóng cholecystokinin nên ngăn ruột hấp thu để giữ nước và điện giải, kích thích nhu động ruột. Chính vì tác dụng này nên hợp chất magnesium thường được kết hợp với hợp nhất aluminum trong các chế phẩm chống acid dịch vị để điều chỉnh nhu động ruột, làm giảm bớt táo bón gây ra do cation aluminum. Simethicone Simethicone là hỗn hợp polydimethylsiloxan và silicon dioxyd, có tác dụng chống tạo bọt. Simethicone làm giảm sức căng bề mặt của các bọt khí, làm vỡ hoặc kết tụ chúng lại và bị tống ra ngoài, nhờ đó có tác dụng chống đầy hơi. Vì vậy simethicone có tác dụng làm giảm các triệu chứng do có quá nhiều khí ở đường tiêu hóa gây ra ở cả người lớn và trẻ em, như khi nuốt phải nhiều khí vào dạ dày hoặc có một số chất khí được tạo ra ở ruột do sự giáng hóa của những thức ăn không được tiêu hóa bởi các vi khuẩn ruột. Simethicone còn được dùng ở dạng kết hợp với thuốc kháng acid, thuốc chống co thắt và enzyme tiêu hóa. Dược động học Aluminum hydroxide Khi uống, aluminum hydroxide phản ứng chậm với acid hydrochloric dạ dày để tạo thành aluminum chloride hòa tan, một số nhỏ được hấp thu vào cơ thể. Các thức ăn trong dạ dày làm cho thuốc ra khỏi dạ dày chậm hơn khi không có thức ăn nên kéo dài thời gian phản ứng của aluminum hydroxide với acid hydrochloric dạ dày và làm tăng lượng aluminum chloride. Khoảng 17 - 30% aluminum chloride tạo thành được hấp thu và đào thải rất nhanh qua thận ở người có chức năng thận bình thường. Ở ruột non, aluminum chloride được chuyển nhanh thành các muối aluminum kiềm không hòa tan, kém hấp thu, có thể là một hỗn hợp aluminum hydroxide, oxyaluminum hydroxide, các loại aluminum carbonate kiềm và các xà phòng aluminum. Aluminum hydroxide cũng phối hợp với phosphate trong thức ăn ở ruột non để tạo thành aluminum phosphate không hòa tan, không hấp thu và bị đào thải vào phân. Nếu phosphate thức ăn được đưa vào cơ thể ít ở người bệnh có chức năng thận bình thường thì aluminum hydroxide sẽ làm giảm hấp thu phosphate và gây giảm phosphate máu và giảm phosphate niệu và hấp thu calcium tăng lên. In vitro, aluminum hydroxide gắn với muối mật tương tự như cholestyramin và ít hòa tan trong dịch vị để giải phóng anion làm trung hòa một phần acid dịch vị. Aluminum hấp thu được đào thải qua nước tiểu. Magnesium hydroxide Hấp thu: Các hợp chất magnesium (magnesium carbonate, magnesium hydroxide, magnesium oxide, magnesium trisilicate) thực tế rất ít tan trong nước. Sau phản ứng trung hòa acid hydrochloric trong acid dịch vị, một phần muối magnesium chloride được tạo thành sẽ được hấp thu qua đường tiêu hóa. Lượng magnesium được hấp thu là khoảng 33%. Thời gian tác dụng chống acid phụ thuộc thời gian dạ dày rỗng. Uống thuốc khi đói thì thời gian tác dụng khoảng 20 - 60 phút. Nếu uống vào bữa ăn hoặc trong vòng 1 giờ sau khi ăn, tác dụng có thể kéo dài tới 3 giờ. Phân bố: Trong cơ thể, lượng magnesium gắn với protein huyết tương khoảng 33%. Magnesium được phân bố vào xương (50%) và các mô (45% ở dịch nội bào và 5% ở dịch ngoại bào). Thải trừ: Magnesium được thải trừ gần như hoàn toàn qua thận, tốc độ thải trừ tỉ lệ thuận với nồng độ thuốc trong huyết tương và tốc độ lọc ở cầu thận. Một lượng nhỏ magnesium được thải trừ qua phân và nước bọt. Thuốc cũng có thể được thải trừ nhờ thẩm tách máu. Simethicone Simethicone có tính trơ về sinh lý. Sau khi uống, thuốc không hấp thu qua đường tiêu hóa, cũng không cản trở bài tiết acid dạ dày hoặc hấp thu các chất dinh dưỡng. Simethicone được thải trừ dưới dạng không đổi trong phân. Cách dùng Lắc kỹ trước khi dùng. Thuốc dùng qua đường uống. Liều dùng Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi Uống 10 ml - 20 ml (1 – 2 gói) giữa các bữa ăn, trước khi đi ngủ hoặc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Không dùng quá 60 ml (6 gói) trong khoảng thời gian 24 giờ. Không dùng liều tối đa trong hơn 2 tuần. Trẻ em dưới 12 tuổi Hỏi ý kiến bác sĩ. Xử trí quá liều Triệu chứng quá liều Các triệu chứng quá liều bao gồm kích ứng đường tiêu hóa, tiêu chảy nhiều nước. Trường hợp ngộ độc magnesium có thể gây tăng magnesium huyết, bao gồm các triệu chứng như buồn nôn, nôn, đỏ bừng mặt, khát nước, hạ huyết áp, chóng mặt, lú lẫn, mất phản xạ gân xương, yếu cơ, ức chế hô hấp, rối loạn nhịp tim, hôn mê và ngừng tim. Xử trí quá liều Truyền tĩnh mạch 10 - 20 ml dung dịch tiêm truyền calcium gluconate 10% nếu có suy hô hấp hoặc ngừng tim. Nếu chức năng thận bình thường, uống hoặc truyền đủ nước để giúp thải loại magnesium ra khỏi cơ thể. Cân nhắc lọc máu nếu bệnh nhân suy thận hoặc tăng magnesium nghiêm trọng. Quên liều Không dùng gấp đôi liều bỏ lỡ. Mọi thông tin chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Lưu ý an toàn

Thông tin trên website chỉ dùng để tham khảo. Hãy hỏi dược sĩ hoặc bác sĩ nếu bạn đang điều trị, mang thai, cho con bú hoặc có bệnh nền.

132.000 ₫ Còn hàng
Trợ lý AI